Đề xuất gỡ vướng cho doanh nghiệp ngừng hoạt động
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chính sách đặc thù xử lý nợ thuế, nhằm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Quản lý thuế.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất giảm nghĩa vụ kê khai và xử phạt đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động trên thực tế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, hoặc bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Theo Bộ Tài chính, thực tế có không ít doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã dừng hoạt động trong thời gian dài nhưng vẫn chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý liên quan. Khi quay lại làm thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt mã số thuế, người nộp thuế phải xử lý lượng lớn hồ sơ khai thuế quá hạn, kéo theo chi phí tuân thủ và tiền phạt có thể tăng đáng kể.
Trong khi đó, nhiều trường hợp không phát sinh hoạt động kinh doanh, doanh thu, chi phí, hóa đơn hoặc nghĩa vụ thuế trong khoảng thời gian ngừng hoạt động. Việc tiếp tục yêu cầu nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế cho toàn bộ thời kỳ này khiến cả doanh nghiệp và cơ quan thuế phải dành thêm nguồn lực để xử lý những thủ tục tồn đọng.
Vì vậy, Bộ Tài chính đề xuất xây dựng cơ chế đặc thù, phân định rõ nghĩa vụ kê khai theo tình trạng hoạt động thực tế, đồng thời tạo điều kiện để người nộp thuế sớm hoàn tất thủ tục pháp lý.
Có thể không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian ngừng hoạt động
Theo dự thảo, người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế đối với kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế trong thời gian bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Đối với trường hợp người nộp thuế chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc văn bản tương đương, dự thảo cũng đề xuất không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian thuộc diện quy định. Ngoại lệ là hồ sơ quyết toán thuế đến thời điểm bị thu hồi giấy tờ pháp lý.
Tuy nhiên, chính sách này không đồng nghĩa với việc người nộp thuế được bỏ qua toàn bộ hồ sơ còn thiếu.
Người nộp thuế vẫn phải nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế của các kỳ trước thời điểm cơ quan thuế ban hành thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, đồng thời thực hiện nghĩa vụ kê khai đối với những kỳ phát sinh nghĩa vụ thuế sau khi Nghị quyết được thông qua.
Bên cạnh đó, người nộp thuế phải cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế. Nội dung cam kết cần xác định cụ thể thời gian không hoạt động tại địa chỉ đăng ký và những kỳ tính thuế liên quan, được đưa vào hồ sơ khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Dự thảo cũng đề cập việc không phải lập, gửi thông báo, báo cáo về hóa đơn đối với nhóm đối tượng thuộc phạm vi quy định, trong khoảng thời gian được xác định theo dự thảo, khi thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Theo Bộ Tài chính, quy định hiện hành đã có những trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, nhưng chưa xử lý đầy đủ tình huống cơ quan thuế chủ động chuyển trạng thái mã số thuế do người nộp thuế bị thu hồi giấy phép hoặc trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Việc bổ sung cơ chế đặc thù được kỳ vọng giúp giảm thủ tục không cần thiết, nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát nghĩa vụ thuế thực tế.
Giảm mức phạt theo thời điểm hoàn thành hồ sơ
Cùng với việc tháo gỡ vướng mắc về kê khai, Bộ Tài chính đề xuất giảm mức phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế của người nộp thuế thuộc diện được hưởng chính sách.
Theo phương án dự thảo, doanh nghiệp và tổ chức hoàn thành đầy đủ hồ sơ khai thuế còn thiếu sẽ được áp dụng mức phạt bằng 30%, 50% hoặc 70% mức phạt theo Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung tương ứng, tùy thời điểm hoàn thành hồ sơ trong thời gian thực hiện Nghị quyết.
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, dự thảo đề xuất không xử phạt vi phạm thủ tục thuế theo quy định được viện dẫn. Trong khi đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai và đã nộp đầy đủ hồ sơ còn thiếu được đề xuất áp dụng mức phạt bằng 50% mức phạt tương ứng, từ ngày Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2028.
Cơ chế giảm phạt được thiết kế theo từng giai đoạn nhằm khuyến khích người nộp thuế chủ động khắc phục vi phạm sớm, thay vì chờ đến cuối thời hạn mới hoàn thành thủ tục.
Đáng chú ý, chính sách không áp dụng đối với hành vi có dấu hiệu trốn thuế hoặc trường hợp người nộp thuế đang bị thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử về hành vi trốn thuế, gian lận thuế hay sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.
Bộ Tài chính nhấn mạnh việc giảm phạt chỉ nhằm xử lý các vi phạm về thủ tục khai thuế trong phạm vi chính sách. Những khoản thuế đã phát sinh vẫn phải được thực hiện đầy đủ; hành vi trốn thuế, gian lận thuế không thuộc diện được miễn trách nhiệm.
Dự kiến xử lý 1,6 triệu hồ sơ khai thuế tồn đọng
Theo ước tính của Bộ Tài chính, chính sách có thể giúp khoảng 1,6 triệu hồ sơ khai thuế được nộp bổ sung, góp phần xử lý lượng hồ sơ tồn đọng kéo dài tại cơ quan thuế.
Về tác động tài chính, cơ quan soạn thảo đưa ra ba kịch bản tương ứng với thời điểm người nộp thuế hoàn thành hồ sơ.
Cụ thể, nếu người nộp thuế nộp hồ sơ từ ngày Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2027 và được áp dụng mức phạt bằng 30% mức hiện hành, số tiền phạt giảm so với quy định hiện hành dự kiến khoảng 12.670 tỷ đồng.
Nếu hồ sơ được hoàn thành trong giai đoạn từ ngày 1/7/2027 đến hết ngày 31/12/2027, với mức phạt bằng 50% mức hiện hành, phần chênh lệch giảm dự kiến khoảng 9.100 tỷ đồng.
Trong giai đoạn từ ngày 1/1/2028 đến hết ngày 30/6/2028, mức phạt được đề xuất bằng 70% mức hiện hành, tương ứng số tiền giảm dự kiến khoảng 5.600 tỷ đồng.
Các con số trên là ước tính của cơ quan soạn thảo theo từng kịch bản, không phải khoản tiền phạt đã được miễn hoặc số thu ngân sách chắc chắn giảm sau khi chính sách được triển khai.
Nếu được Quốc hội thông qua, cơ chế này sẽ tạo thêm cơ hội cho những doanh nghiệp, tổ chức và hộ kinh doanh thực sự muốn khôi phục hoạt động hoặc chấm dứt hoạt động đúng quy định nhưng còn vướng hồ sơ tồn đọng.
Dù vậy, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào việc xác định đúng đối tượng, kiểm tra tính trung thực của cam kết và phân biệt rõ trường hợp ngừng hoạt động thực tế với trường hợp lợi dụng chính sách để né tránh nghĩa vụ thuế. Đây cũng là điều kiện quan trọng để việc tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế không làm suy giảm tính nghiêm minh của pháp luật thuế.
Cương Phạm