Sửa Luật An toàn thực phẩm: Đề xuất tăng chế tài với chủ sàn thương mại điện tử

Cơ quan thẩm tra dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề nghị bổ sung chế tài đối với chủ sàn thương mại điện tử, tăng quyền tiếp cận thông tin và truy xuất nguồn gốc thực phẩm của người tiêu dùng. Đồng thời, dự thảo cần làm rõ trách nhiệm quản lý, tăng tính răn đe đối với hành vi vi phạm và tránh phát sinh thủ tục không cần thiết cho doanh nghiệp.
03143372-5e27-4596-b81b-0b93a2f96919-1792823887.png
Sửa Luật An toàn thực phẩm: Đề xuất tăng chế tài với chủ sàn thương mại điện tử (ảnh tạo bởi AI)

Sửa Luật An toàn thực phẩm: Cần quản lý theo mức độ rủi ro

Sáng 24/10, tại Kỳ họp thứ 2, sau khi Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết cơ quan thẩm tra tán thành sự cần thiết sửa đổi luật, đồng thời đánh giá hồ sơ dự án được chuẩn bị công phu, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét.

Theo cơ quan thẩm tra, dự thảo có nhiều điểm mới theo hướng hiện đại hóa quản lý, chuyển từ kiểm soát đồng đều sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro và toàn bộ chuỗi thực phẩm. Sản phẩm có nguy cơ cao sẽ được chú trọng tiền kiểm, trong khi nhóm ít nguy cơ có thể tăng cường hậu kiểm. Tần suất thanh tra cũng được tính toán dựa trên đặc điểm sản phẩm, mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ của cơ sở.

Tuy nhiên, để những thay đổi này phát huy hiệu quả, Ủy ban đề nghị đánh giá kỹ điều kiện thực hiện, nhất là nhân lực tại địa phương, năng lực kiểm nghiệm, trang thiết bị và khả năng hậu kiểm. Nếu quy định được siết chặt nhưng nguồn lực chưa theo kịp, thủ tục có thể trở thành điểm nghẽn, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý. Những vướng mắc liên quan đến việc triển khai Nghị định 46 trước đây được xem là vấn đề cần rút kinh nghiệm.

Một nội dung khác được lưu ý là nguy cơ gia tăng chi phí tuân thủ. Cơ quan thẩm tra đề nghị xem xét lại quy định kiểm tra hai lớp đối với thực phẩm nhập khẩu tại Điều 39 và yêu cầu gia hạn Giấy đăng ký bản công bố sản phẩm sau 5 năm tại Điều 47. Các thủ tục này cần được thiết kế phù hợp với mức độ rủi ro và lịch sử chấp hành pháp luật, thay vì áp dụng cứng nhắc cho mọi đối tượng.

Làm rõ trách nhiệm của sàn thương mại điện tử

Trong bối cảnh thực phẩm được kinh doanh ngày càng phổ biến trên môi trường số, Ủy ban đề nghị bổ sung quy định về quyền độc lập của người tiêu dùng trong tiếp cận thông tin minh bạch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Đáng chú ý, dự thảo cần quy định rõ trách nhiệm và chế tài đối với chủ nền tảng, sàn thương mại điện tử nhằm tăng hiệu quả bảo vệ người mua. Đây là vấn đề cần được làm rõ để hạn chế tình trạng thực phẩm không bảo đảm an toàn, không rõ nguồn gốc được đưa lên các kênh bán hàng trực tuyến.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ việc sang chia, sang chiết thực phẩm đóng gói sẵn để bán lẻ có thuộc nhóm hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7 hay không. Trường hợp hoạt động này được phép thực hiện, cần xác định cụ thể điều kiện và nghĩa vụ của cơ sở, tránh bị lợi dụng để hợp thức hóa thực phẩm không rõ nguồn gốc.

Về chế tài, Ủy ban đề nghị nghiên cứu cơ chế đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép có thời hạn; với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có thể xem xét thu hồi vĩnh viễn đối với tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng. Thông tin vi phạm cũng cần được công khai trên hệ thống dữ liệu của cơ quan quản lý và các nền tảng số cấp xã, phường.

Cân nhắc quy định bổ sung vi chất, giảm thủ tục nhập khẩu

Đối với việc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm, cơ quan thẩm tra cho rằng cần xác định rõ phạm vi áp dụng. Trước mắt, nên tập trung vào những thực phẩm thiết yếu như muối ăn, dầu ăn, bột mì, nước mắm và các nhóm cộng đồng có nguy cơ thiếu hụt vi chất tương ứng.

Việc mở rộng danh mục thực phẩm bắt buộc bổ sung vi chất cần được đánh giá đầy đủ, tránh tác động bất lợi đối với những người đã đủ hoặc thừa vi chất, đồng thời hạn chế xáo trộn thị trường.

Dự thảo cũng cần bảo đảm thống nhất với các luật liên quan. Hiện Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa phân loại rủi ro thành ba mức cao, trung bình và thấp, trong khi dự thảo Luật An toàn thực phẩm chỉ chia hai mức nguy cơ cao và thấp. Các khái niệm về thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung và thực phẩm bảo vệ sức khỏe cũng cần được rà soát để phù hợp với Luật Quảng cáo.

Với thực phẩm nhập khẩu, quy định phải thông báo kết quả từng lô hàng, kể cả lô thuộc diện kiểm tra giảm, được cho là chưa phù hợp với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục. Vì vậy, cơ quan thẩm tra đề nghị bỏ yêu cầu thông báo riêng đối với từng lô hàng kiểm tra giảm, đồng thời nghiên cứu cơ chế xác nhận tự động qua Cơ chế một cửa quốc gia.

Nhìn chung, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm không chỉ nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm mà còn phải xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh hợp pháp. Hiệu quả của luật sẽ phụ thuộc đáng kể vào tính khả thi của quy định và năng lực thực thi sau khi được ban hành.

Ngọc Nguyễn