Tín dụng 2026 Room vẫn rộng nhưng ngân hàng siết chọn lọc, doanh nghiệp phải tự nâng chuẩn

Năm 2026, tín dụng tiếp tục được nới với mục tiêu tăng trưởng 15–30% ở nhiều ngân hàng. Nhưng “cửa” vay vốn không còn mở đồng đều. Dòng tiền đang chảy có chọn lọc, buộc doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, kiểm soát dòng tiền và nâng năng lực quản trị nếu muốn tiếp cận vốn.
vietin1-17772020377051878251435-1777263158.jpg
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 VietinBank - Ảnh: VGP

Không khó để nhận ra một thay đổi rõ rệt trong cách ngân hàng cho vay năm 2026, tiền vẫn có, nhưng không còn dễ lấy như trước. Tại mùa đại hội cổ đông vừa qua, nhiều nhà băng tự tin đặt kế hoạch tăng trưởng tín dụng khá cao, có nơi lên tới 30%. Con số này, nhìn bề ngoài, cho thấy “room” vốn vẫn còn rộng và nền kinh tế đang được kỳ vọng hồi phục tốt hơn. Nhưng thực tế ở phía doanh nghiệp lại không hoàn toàn giống vậy.

Vốn không thiếu, nhưng không còn “chia đều”

Nếu như giai đoạn trước, đặc biệt sau dịch, tín dụng có xu hướng mở rộng để hỗ trợ tăng trưởng, thì hiện tại cách tiếp cận đã khác. Ngân hàng không còn đẩy vốn theo kiểu “trải thảm”, mà bắt đầu chọn lọc kỹ hơn từng hồ sơ.

Một lãnh đạo doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất chia sẻ, việc vay vốn năm nay “không khó hơn, nhưng kỹ hơn”. Ngân hàng hỏi sâu vào dòng tiền, hợp đồng đầu ra, thậm chí cả cách doanh nghiệp quản lý tồn kho những yếu tố trước đây không phải lúc nào cũng bị soi kỹ.

Điều đó cho thấy bài toán vay vốn đang dịch chuyển. Không còn nằm ở việc ngân hàng có muốn cho vay hay không, mà phụ thuộc nhiều hơn vào việc doanh nghiệp có đủ tiêu chuẩn để được chọn hay không.

Trong bối cảnh này, sự phân hóa giữa các doanh nghiệp thể hiện khá rõ. Những doanh nghiệp có dòng tiền ổn định, báo cáo tài chính minh bạch và lịch sử tín dụng “sạch” gần như không gặp nhiều trở ngại. Thậm chí, họ còn có lợi thế đàm phán lãi suất hoặc lựa chọn ngân hàng phù hợp.

Ngược lại, nhóm doanh nghiệp có dòng tiền yếu, công nợ kéo dài hoặc tồn kho lớn đang gặp không ít khó khăn. Không ít trường hợp dù có tài sản đảm bảo nhưng vẫn bị trì hoãn giải ngân, hoặc phải chịu điều kiện chặt chẽ hơn.

Một điểm đáng chú ý là cách ngân hàng nhìn vào rủi ro đã thay đổi. Tài sản đảm bảo không còn là “lá chắn” đủ mạnh. Thay vào đó, khả năng tạo ra dòng tiền để trả nợ mới là yếu tố được đặt lên hàng đầu.

chutichphu1-177720207043323560516-1777263158.jpg
Chủ tịch TPBank Đỗ Minh Phú phát biểu tại Đại hội đồng cổ đông TPBank - Ảnh: VGP

Minh bạch tài chính không còn là lựa chọn

Trong nhiều năm, minh bạch tài chính thường được xem là “lợi thế cạnh tranh”. Nhưng đến thời điểm này, nó gần như trở thành điều kiện bắt buộc. Các ngân hàng đang nâng chuẩn thẩm định, không chỉ ở số liệu kế toán mà cả chất lượng dòng tiền. Lợi nhuận trên báo cáo không còn là yếu tố quyết định nếu dòng tiền thực tế không ổn định.

Điều này khiến không ít doanh nghiệp rơi vào tình thế “có lãi nhưng vẫn khó vay”. Nguyên nhân không nằm ở kết quả kinh doanh, mà ở cách dòng tiền vận hành thu chậm, chi nhanh, hoặc phụ thuộc quá nhiều vào một vài khách hàng lớn. Nói cách khác, ngân hàng đang nhìn vào “khả năng sống sót” của doanh nghiệp, chứ không chỉ là “bề ngoài đẹp”.

Một thay đổi khác ít được để ý nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp, đó là cấu trúc thu nhập của ngân hàng. Tín dụng vẫn là trụ cột, nhưng nguồn thu từ phí dịch vụ đang tăng lên rõ rệt: từ quản lý tài khoản, thanh toán quốc tế, đến bảo hiểm hay các gói tài chính tích hợp.

Vì vậy, chi phí vốn thực tế không còn nằm ở lãi suất niêm yết. Nếu không tính kỹ các khoản phí đi kèm, doanh nghiệp có thể “đội” chi phí tài chính lên đáng kể mà không nhận ra ngay từ đầu.

Nhóm xuất nhập khẩu hưởng lợi

Ở chiều tích cực, nhóm doanh nghiệp xuất nhập khẩu và tham gia chuỗi cung ứng đang được hưởng lợi rõ rệt. Ngân hàng hiện đẩy mạnh tài trợ thương mại, cung cấp các dịch vụ như LC, bảo lãnh, tài trợ chuỗi cung ứng… giúp doanh nghiệp rút ngắn vòng quay vốn và giảm áp lực dòng tiền. Những ngành như logistics, sản xuất xuất khẩu hay doanh nghiệp có đơn hàng ổn định từ thị trường quốc tế đang được đánh giá cao hơn trong hệ thống tín dụng.

Chuyển đổi số không còn là câu chuyện chiến lược dài hạn, mà đã tác động trực tiếp đến trải nghiệm vay vốn. Nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ giao dịch qua kênh số lên tới gần như toàn bộ, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý hồ sơ và giải ngân.

Với doanh nghiệp, việc sử dụng nền tảng số không chỉ giúp tiết kiệm chi phí vận hành, mà còn tạo ra dữ liệu minh bạch hơn, yếu tố ngày càng quan trọng trong quá trình thẩm định tín dụng.

Vay tiêu dùng dễ hơn nhưng cũng “soi” kỹ hơn

Ở mảng cá nhân, việc vay tiêu dùng trở nên nhanh và thuận tiện hơn nhờ công nghệ. Tuy nhiên, phía sau đó là hệ thống chấm điểm tín dụng ngày càng chặt chẽ. Người có thu nhập ổn định, lịch sử tín dụng tốt gần như được “mở cửa”. Nhưng với nhóm rủi ro cao, việc tiếp cận vốn khó hơn, hoặc phải chấp nhận mức lãi suất cao hơn. Xu hướng cho vay đại trà đang dần được thay thế bằng mô hình cá nhân hóa, mỗi khách hàng là một “hồ sơ rủi ro” riêng biệt.

Việc siết chuẩn tín dụng có thể khiến một số doanh nghiệp cảm thấy khó khăn hơn trong ngắn hạn. Nhưng về dài hạn, đây là bước đi cần thiết để kiểm soát nợ xấu và giữ ổn định hệ thống tài chính. Với doanh nghiệp, thông điệp khá rõ, muốn tiếp cận vốn, phải tự nâng chuẩn.

Không còn câu chuyện chỉ cần tài sản đảm bảo là có thể vay. Ngân hàng giờ đây quan tâm nhiều hơn đến câu hỏi? doanh nghiệp có thực sự tạo ra tiền và có khả năng trả nợ hay không. Room tín dụng vẫn còn. Nhưng trong cuộc chơi mới, vốn sẽ chỉ chảy về những nơi đủ minh bạch, đủ kỷ luật và đủ năng lực để sử dụng hiệu quả.

Lê Hiếu